Gỗ tự nhiên được dùng trong nội thất
Go tu nhien được hiểu như gỗ thường thấy và còn được gọi là gỗ đặc. Bên cạnh gỗ đặc còn vài loại gỗ nhân tạo khác như gỗ dán veneer, gỗ ghép, ván ép, tấm MDF, HDF, Okal – tất thảy đều là những sản phẩm “chế biến” từ gỗ tự nhiên…
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều
cửa hàng nội thất, cũng như các xưởng sản xuất đồ nội
thất gỗ, ngoài những nơi uy tín đóng
đúng chất liệu gỗ cho khách hàng thì có một số nơi “treo đầu dê bán
thịt chó”, không đúng như chất liệu mà khách hàng đã đặt hoặc yêu
cầu, mà thay vào đó họ đóng gỗ tạp, hoặc chỉ có phần cánh, phần bề
mặt, còn phần thùng lại là một loại gỗ khác không đúng chất liệu.
Đặc điểm gỗ rừng tự nhiên: Mỗi quốc gia có cách riêng để phân chủng loại
gỗ như gỗ cứng, gỗ mềm… Tại Việt Nam phân theo nhóm, gỗ nhóm 1, 2 là nhóm gỗ
quý, tốt như cẩm lai, giáng hương, gõ, căm xe… và càng về sau 3, 4, 5… là những
nhóm gỗ thường hơn. Từ nhóm 6 trở đi thường gọi là gỗ tạp – gỗ xoàng, xấu như
gỗ cây mít, cây cao su, bạch đàn… Chung quy, phân loại nhóm hay phân theo cách
nào cũng đều dựa vào lý tính, đặc tính của cây gỗ và cả yếu tố thị trường – sở
thích của người tiêu dùng về màu sắc, vân đẹp, ít biến dạng, bền.
Cách nay khoảng hơn 10 năm trước, gỗ tốt thường để đóng đồ dùng
nội thất như tủ, bàn ghế, giường… các kiểu; cả dùng trong xây dựng như cột kèo,
cửa nẻo… Nay vẫn còn tồn tại mặt hàng này nhưng không đại trà mà có xu hướng
sản xuất ít đi và đóng “nhại” đồ cổ với nhiều đường cong, hoạ tiết khắc chạm,
vì nguyên liệu gỗ quý cạn kiệt. Và cũng chính vì hiếm gỗ tốt mà nhiều sản phẩm
đóng không đạt chất lượng do “rút” bớt bề dày của ván, đố gỗ đóng trên sản
phẩm. Hoặc tận dụng cả phần giác gỗ – phần nằm ngoài lõi, gần vỏ cây – mau bị
mối mọt. Với gỗ tốt, phần lõi thường có màu đỏ, vàng, nâu sậm; phần giác lại
màu trắng hay vàng nhạt. Để tạo sắc và vân cho tiệp nhau giữa hai phần lõi và
giác, “công nghệ” vẽ của thợ vẹc ni… thêm việc. Nếu không tinh mắt có thể…
nhầm. Ngay như các chủng loại gỗ thường hay xoàng, không có màu sậm hay vân
nhưng qua “công nghệ vẽ” lên bề mặt thì sản phẩm trở nên… đồ gỗ tốt. Để phân
biệt, có thể xem cả mặt trong của sản phẩm.
Ưu điểm của gỗ:
- Cách nhiệt, cách điện, ngăn ẩm tốt, nhiệt dãn nở bé.
- Mềm nên có thể dùng các máy móc, dụng cụ để cưa, xẻ, bào, khoan, tách chẻ với vận tốc cao.
- Dễ nối ghép bằng đinh, mộng, keo dán.
- Có vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu, dễ trang sức bề mặt.
- Dễ phân ly bằng hóa chất dùng sản xuất giấy và tơ nhân tạo.
- Là nguyên liệu tự nhiên, chỉ cần trồng, chăm sóc và dùng máy móc đơn giản để khai thác và chế biến là có được.
Nhược điểm:
- Gỗ bị gây hại bởi sinh vật hại gỗ
- Sinh trưởng chậm, đường kính có hạn, có nhiều khuyết tật tự nhiên. Cần sử dụng các biện pháp kĩ thuật lâm - sinh hợp lý trong công tác trồng và chăm sóc rừng
- Dễ mục, dễ bị sinh vật (mối, mọt,...) phá hoại. Cần phun tẩm các hóa chất chống mối mọt.
- Đàn hồi thấp. Cần biến tính gỗ bằng phương pháp ép hoặc ngâm hóa chất.
- Trong khi phơi sấy thường dễ nứt nẻ, cong vênh, biến hình. Cần có phương án cưa xẻ, bóc lớp thích hợp.
- Trong thân thường có các chất chiết xuất, thường gây khó khăn cho công việc trang sức bề mặt sản phẩm, hoặc ăn mòn các công cụ cắt gọt.
- Tỷ lệ co dãn cao, sản phẩm thường chịu tác động lớn của độ ẩm, nhiệt độ môi trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét